Liệu thị trường chứng khoán tiếp theo sẽ gây ra suy thoái kinh tế?

Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán tiếp theo có thể dễ dàng khởi động một cuộc suy thoái. Đó là bởi vì cổ phiếu là cổ phiếu sở hữu trong một công ty. Do đó, thị trường chứng khoán phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư vào thu nhập trong tương lai của tất cả các công ty này. Thu nhập của công ty phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế Hoa Kỳ. Điều đó có nghĩa là thị trường chứng khoán cũng là một chỉ số cho chính nền kinh tế Hoa Kỳ.

Một vụ tai nạn báo hiệu sự mất niềm tin lớn trong nền kinh tế. Khi sự tự tin không được phục hồi, nó sẽ dẫn đến suy thoái. Đó là bởi vì giá trị cổ phiếu giảm có nghĩa là ít tài sản hơn cho các nhà đầu tư. Nó có thể khiến người tiêu dùng sợ hãi trong việc mua ít hơn. Đây là thành phần lớn nhất của tổng sản phẩm quốc nội, thêm gần 70% vào nền kinh tế.

Một vụ tai nạn cũng có nghĩa là ít tài chính cho các doanh nghiệp mới. Việc bán cổ phiếu là một cách mà các công ty có thể có được số tiền cần thiết để phát triển. Đó là một cách mà chứng khoán ảnh hưởng đến nền kinh tế Hoa Kỳ.

Cuối cùng, nhưng chắc chắn không kém, một thị trường chứng khoán Mỹ suy giảm làm chậm tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Đầu tiên, nó sẽ khiến các chỉ số chứng khoán khác giảm. Sức mạnh của nền kinh tế Hoa Kỳ đóng góp 20 phần trăm cho sản xuất toàn cầu.

Suy thoái kinh tế có thể không theo ngay một vụ tai nạn ngay lập tức. Ví dụ, trong quý đầu tiên của năm 2007, chỉ số trung bình công nghiệp của Dow Jones đã giảm hơn 600 điểm trong một tuần. Nhưng nó đã phục hồi trong năm và tăng lên mức cao 14.000 trong tháng Mười. Mặc dù vụ tai nạn không gây ra suy thoái kinh tế, nhưng nó đã báo hiệu rằng một người đang đến. Để biết thêm, xem Lịch sử đóng cửa.

Một sự sụp đổ của thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng kết thúc trong suy thoái. Nó cũng phục vụ như một dấu hiệu cảnh báo về sự mất niềm tin của nhà đầu tư. Nếu Cục Dự trữ Liên bang có thể khôi phục niềm tin, nó sẽ tránh được suy thoái kinh tế. Một ví dụ điển hình là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1987, còn được gọi là Thứ Hai Đen. Vào ngày 19 tháng 10, chỉ số Dow giảm 22,61%. Đó là mức giảm phần trăm một ngày lớn nhất trong lịch sử thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư đã hoảng loạn về tác động của luật chống tiếp quản di chuyển qua Quốc hội. Dự luật sẽ loại bỏ khoản khấu trừ thuế cho các khoản vay được sử dụng để tài trợ cho việc tiếp quản công ty.

Các chương trình giao dịch chứng khoán trên máy vi tính làm cho việc bán tháo trở nên tồi tệ hơn. Fed ngay lập tức bắt đầu bơm tiền vào ngân hàng. Nhờ đó, thị trường ổn định. Hành động của Fed đã tránh được suy thoái kinh tế.

Thêm một vài ví dụ

Vào ngày 15 tháng 9 năm 2008, chỉ số Dow giảm 500 điểm, mức giảm tồi tệ nhất kể từ đáy của cuộc suy thoái năm 2001. Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Henry Paulson từ chối bảo lãnh cho Lehman Brothers khiến thị trường rơi vào khủng hoảng niềm tin. Đó là bởi vì các công ty tài chính biết rằng họ sẽ bị buộc phải ăn những khoản lỗ mà họ phải chịu từ cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn.

Khi giá trị cổ phiếu của các công ty tài chính này giảm, họ biết rằng họ sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn mới để bù lỗ và thực hiện các khoản vay mới. Theo cách này, sự suy giảm của thị trường chứng khoán đe dọa sẽ khiến các ngân hàng này ngừng hoạt động nếu họ không có đủ dự trữ để trang trải cho sự suy thoái. Điều này, trong và của chính nó, có thể đã đưa nền kinh tế vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng.

Một ví dụ khác là những gì đã xảy ra hai tuần sau đó. Vào ngày 5 tháng 10 năm 2008, chỉ số Dow đã giảm từ hơn 10.000 xuống dưới 8.500, giảm 15% trong một tuần. Nó báo hiệu sự mất niềm tin đột ngột và cực độ vào cả thị trường và nền kinh tế cơ bản.

Ví dụ tồi tệ nhất là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929. Nó xảy ra trong bốn ngày giao dịch, từ Thứ Hai Đen cũng đề cập đến ngày 28 tháng 10 năm 1929. Đó là ngày thứ Hai đầu tiên sau Thứ Năm Đen (24 tháng 10) và kéo dài đến Thứ Ba Đen (29 tháng 10) . Trong bốn ngày đó, thị trường chứng khoán đã mất tất cả lợi nhuận mà nó đã kiếm được trong cả năm.

Việc bán tháo không gây ra cuộc Đại suy thoái. Một cuộc suy thoái đã bắt đầu vào tháng Tám. Nhưng sự sụp đổ đã phá hủy niềm tin vào đầu tư kinh doanh.  các ngân hàng đã sử dụng tiền của người gửi tiền để đầu tư vào Phố Wall. Những người thậm chí chưa bao giờ mua một cổ phiếu đã mất tiền tiết kiệm cả đời. Khi mọi người phát hiện ra, họ vội vã rút tiền ký gửi. Nhưng đối với hầu hết, đã quá muộn. Các ngân hàng đóng cửa vào cuối tuần, và nhiều người không bao giờ mở cửa trở lại. Thị trường chứng khoán đã không phục hồi hoàn toàn cho đến năm 1954.

Nền kinh tế chìm vào suy thoái mười năm. Để biết thêm, xem Dòng thời gian của cuộc đại khủng hoảng.

Nó ảnh hưởng đến bạn như thế nào

Bạn nên làm gì để bảo vệ chính mình? Trước hết, đừng hoảng sợ. Đáy của một thị trường gấu có sự dao động và biến động lớn. Điều đó biến thành những dự đoán hoảng loạn và cam chịu từ các nhà kinh tế. Một cuộc suy thoái không làm trầm cảm. Luôn có sự tăng trưởng kinh tế ở những nơi khác trên thế giới. Cách duy nhất để biết liệu một sự sụp đổ của thị trường chứng khoán có gây ra suy thoái hay không là theo sát các chỉ số kinh tế.

 

 

 

 

 

 

Leave a Review

Your email address will not be published. Required fields are marked *